12 P.M. - Chương 61
(Pov của Seo In nha)
Chữ Thệ trong tuyên thệ, chữ Nhẫn nơi lưỡi dao. Thanh dao mang lời thệ ước.
Một thanh dao thề nguyện hiến dâng thân mình cho Cheongcheon.
‘Seo In’ mang ý nghĩa là một công cụ, phó mặc để cho công ty do ông nội tôi gầy dựng và hiện đang được cha tôi chèo lái sai khiến. Đó vừa là tên tôi, là lý do tôi hiện diện trên cõi đời này, mà cũng là sứ mệnh tôi không được phép quên đi bao lâu còn tồn tại.
Dòng máu của người ông nhẫn tâm đặt cái tên đó cho cháu mình nào có thể chảy đi đâu khác được. Cha tôi cũng là một kẻ máu lạnh, ông ta chẳng mảy may cảm thấy cắn rứt khi xem con cái như một món công cụ. Mà mẹ tôi, người phụ nữ đã thề non hẹn biển, hứa hẹn bạc đầu với kẻ như vậy thì cũng cùng một giuộc cả thôi.
Ông nội đã đưa ‘Văn phòng Luật Cheongcheon’ vươn lên trở thành công ty luật hàng đầu Hàn Quốc, còn cha mẹ tôi đến với nhau chỉ vì những toan tính về quyền lực lớn hơn, danh vọng lẫy lừng cùng những túi tiền nặng trĩu. Giữa những kẻ đã chẳng còn chút tình yêu hay dục vọng nào như họ thì điều mong mỏi ở con cái cũng chỉ có một, đó là phải bành trướng cái thế giới mà họ đã gầy dựng trở nên vĩ đại hơn nữa.
Theo lẽ thường thì người ta có thể yêu thích một món công cụ, nhưng tuyệt nhiên sẽ chẳng bao giờ dành cho nó thứ tình cảm được gọi là tình yêu, kể cả tình phụ tử hay mẫu tử. Thế nên tôi đã lớn lên mà chẳng hề hay biết tình yêu là gì.
Người cho tôi bú mớm là cô bảo mẫu được thuê về bằng tiền. Người dạy tôi đánh vần cũng chỉ là một giáo viên làm việc vì thù lao. Người lo từng bữa ăn cho tôi là bếp trưởng, còn người cùng tôi đến trường ngày đầu tiên lại là tài xế riêng. Cũng giống như cha mẹ tôi, đối với họ thì cái tên ‘Seo In’ này bất quá cũng chỉ là phương tiện để đạt được mục đích kiếm sống.
Tôi cũng chẳng mất quá nhiều thời gian để nhận ra hoàn cảnh trưởng thành của mình khác biệt so với người thường.
Đó là năm tôi khoảng năm sáu tuổi, vào ngày nhà trẻ tổ chức cái gọi là giờ học có phụ huynh tham dự. Tôi hoàn toàn bị choáng ngợp trước bầu không khí kỳ lạ tỏa ra từ những đứa trẻ khác cùng cha mẹ của chúng.
Thứ không khí kỳ lạ đó, có lẽ chính là tình yêu.
Họ không ngần ngại bộc lộ sự quyến luyến dành cho nhau, tỏa sáng lấp lánh muôn vàn sắc màu. Trong khi đó, thế giới tôi đang sống và cả bản thân tôi lại chỉ tuyền một màu trắng đen tẻ nhạt.
Vì chưa nhận thức được điều đó bi thảm đến nhường nào, nên tôi cũng chẳng biết thế nào là buồn bã. Tôi chỉ cảm nhận được nỗi đau buốt giá tựa như những mảng đất đông cứng suốt mùa đông đang đổ ập lên da thịt mình, đó chính là sự cô độc. Phải đợi đến khi lớn hơn một chút thì tôi mới vỡ lẽ đó là loại cảm xúc gì.
“Mẹ ơi.”
Sau buổi dự giờ hôm ấy, tôi đã thử thốt ra cái từ ngữ cứ lởn vởn trong miệng mình suốt cả ngày. Trước đó trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, tôi chỉ luôn gọi đấng sinh thành là ‘mẫu thân’ và ‘phụ thân’.
*엄마 (eomma) để gọi mẹ kiểu thân thiết, 어머니 (eomeoni) là cách gọi mẹ trang trọng.
Bà nhìn tôi với vẻ mặt như thể vừa nghe thấy một từ ngữ thô tục nào đó.
“Vừa rồi con nói cái gì?”
“Con gọi là ‘mẹ’ ạ.”
“Tại sao lại gọi như thế?”
Tôi chẳng thể nào thành thật trả lời rằng ‘Vì con thấy các bạn đều gọi mẹ mình như thế’.
Cha mẹ tôi là những người coi ý thức đặc quyền như một loại tín ngưỡng, họ cho rằng việc hùa theo đám đông là hành động cực kỳ thô thiển. Họ vẫn luôn răn dạy rằng muốn sống ở đẳng cấp thượng lưu thì phải luôn dẫn đầu để kẻ khác phải chạy theo sau, và bản thân phải trở thành một tồn tại thật khác biệt.
“…Chỉ là tự nhiên con muốn gọi thế thôi ạ.”
“Tự nhiên?”
Bà cau mày rồi bật cười, một nụ cười mang đầy vẻ châm biếm.
“Không có lý do gì mà lại gọi nghe ớn lạnh như thế sao? Đừng bao giờ lặp lại nữa.”
Liệu trên đời này có mấy người lại đi quở trách đứa con mình mang nặng đẻ đau chỉ vì nó gọi mình là ‘mẹ’ chứ? Chẳng thể gọi là đặc biệt, nhưng ít nhất thì cũng được xem là lập dị.
Vậy còn cha thì sao?
Tôi thậm chí còn chưa bao giờ dám tưởng tượng đến việc gọi ông ấy là ‘bố’. Dám cá là tôi sẽ ăn ngay một cái tát trời giáng, hoặc nếu không thì bất cứ thứ gì ông ấy đang cầm trên tay lúc đó sẽ bay thẳng về phía tôi.
*아빠 (appa)/아버지 (abeoji)
Bên ngoài là vị luật sư đại diện đầy chính nghĩa và nhân từ của Cheongcheon, còn về đến nhà lại là một tên bạo chúa. Đó chính là cha tôi.
Cha tôi tin rằng sự cai trị bằng nỗi sợ hãi, bạo lực, kèm theo chút ít bổng lộc mới có thể tạo ra những kẻ trung thành. Ông ấy bảo rằng chính bản thân mình cũng đã được nuôi dạy theo cách đó. Phương pháp giáo dục của gia tộc họ Ki cũng chẳng khác nào quy trình tạo ra những con quái vật.
Cấm được khóc. Phải gạt bỏ cảm xúc. Phải đặt lý trí lên hàng đầu. Phải luôn ghi nhớ về nguồn cội, và sẵn sàng chà đạp bất cứ con sâu cái kiến nào dám bén mảng xâm phạm đến vị thế của mình.
Suy cho cùng, ngay cả công lý cũng chỉ là một loại phương tiện. Luật sư không phải là người đại diện cho thân chủ, mà là kẻ khiến cho đối phương phải câm lặng. Kẻ chiến thắng mới là kẻ nắm giữ chân lý. Lý lẽ nơi tòa án cũng chính là đạo lý của thế giới này.
Sẽ không quá lời khi nói rằng những thường thức tôi học được bên ngoài và cái logic mà cha luôn ra rả hoàn toàn đối lập nhau. Khi tôi thắc mắc về điều đó, ông ấy phán.
“Đó chỉ là mấy lời ngụy biện được dựng lên để thuần hóa lũ nô lệ thôi. Mặc kệ bên ngoài nói gì, mày chỉ cần khắc cốt ghi tâm lời tao nói là được.”
Tôi hứa sẽ làm như vậy như một lẽ đương nhiên. Với cha, ngay cả sự thắc mắc cũng bị coi là phản loạn, nên tất cả những gì tôi có thể làm chỉ là phục tùng vô điều kiện.
Dù tôi đã ngoan ngoãn nghe lời như thế, nhưng vẫn chẳng thể nào khiến cha vừa ý.
Hồi nhỏ, tôi phát triển chậm hơn so với mức trung bình của bạn bè đồng trang lứa. Tuy không đến mức tụt hậu rõ rệt, nhưng bấy nhiêu cũng đã quá đủ để chọc giận những bậc cha mẹ luôn tôn sùng chủ nghĩa hoàn hảo.
Giờ ngẫm lại, lớn lên mà gần như chẳng có chút giao tiếp nào với cha mẹ, những người lẽ ra phải gần gũi nhất, thì việc chậm phát triển cũng là hậu quả tất yếu. Dĩ nhiên, cả hai người đều chẳng mảy may nghĩ đó là lỗi của mình. Sự non nớt của tôi hoàn toàn là lỗi do tôi.
Sau khi tôi làm kiểm tra phát triển theo lời khuyên của giáo viên mẫu giáo, cha mẹ liền làm thủ tục cho tôi thôi học và triệu tập những giảng viên có tiếng trong lĩnh vực phát triển trẻ em về nhà.
Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ có thêm nhiều người biết được bí mật, rằng dòng máu của Ki Yong Su và Kang Su Yeon lại kém cỏi đến thế. Tôi đã cả gan bôi tro trát trấu lên lòng tự tôn của hai con người vĩ đại ấy nên việc phải chịu sự trừng phạt là điều đương nhiên.
“Tôi tự hỏi liệu nó có đúng là con do tôi đẻ ra không nữa. Chỉ được mỗi cái vỏ ngoài giống tôi, còn bên trong thì hỏng bét. Rốt cuộc thì mày chui từ đâu ra thế hả?”
Mẹ nhìn tôi bằng ánh mắt khinh miệt.
“……”
Còn cha thì hoàn toàn ngó lơ tôi. Nhưng…
“Ki Seo In. Ra đây.”
Thi thoảng vào những ngày không kiềm chế được tính khí nóng nảy hoặc khi say rượu, ông ấy lại gọi tôi vào thư phòng. Thư phòng của cha chính là phòng tra tấn đối với tôi.
Ban đầu, tôi mong mình không bị đánh. Sau đó, tôi hy vọng bị đánh ít đi một chút, rồi tiếp đến lại cầu xin ông ấy chỉ đánh tôi bằng tay trần thôi.
Thời gian trôi qua, tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho khoảng thời gian này mau chóng kết thúc, hay ít nhất là để tôi ngất đi, hoặc thà rằng chết quách đi cho xong.
Dù ở cái tuổi mà khái niệm về cái chết còn mơ hồ, tôi vẫn tin rằng cách duy nhất để thoát khỏi địa ngục này là nhắm mắt xuôi tay mãi mãi.
Thế nên từ lúc nào không hay, tôi đã chẳng còn van xin ‘tha mạng’ mỗi khi chịu đòn nữa. Tỉnh lại sau khi ngất đi, tôi đau đớn tột cùng trước thực tại rằng mình vẫn còn sống. Thậm chí tôi còn sợ hãi khi thấy những vết thương trên người dần mờ đi. Bởi lẽ việc phải tiếp tục duy trì cuộc sống này thật quá đỗi kinh hoàng.
Vết thương có thể lành, nhưng tinh thần tôi thì đang mưng mủ và dần thối rữa.
“Mẹ đã hủy các lớp học sau 6 giờ hôm nay rồi. Ông bà nội sẽ đến đấy. Học gia sư xong thì thay quần áo đi. Liệu hồn mà cư xử cho đàng hoàng, đừng có làm mẹ mất mặt nữa. Nghe rõ chưa?”
“……”
“Mẹ hỏi là có nghe rõ không hả.”
“……”
“Ki Seo In.”
“……”
“Ki Seo In!”
“……”
Đến một ngày nọ, tôi không thể cất thành tiếng được nữa.
Cha mẹ cứ ngỡ tôi cố tình ngậm miệng để phản kháng. Cha không kìm được cơn giận, hết đá vào bụng lại nhéo mạnh vào đùi tôi. Thế nhưng đến tận cùng, tôi vẫn chẳng thể thốt lên dù chỉ là một tiếng rên rỉ. Phải đến lúc ấy, họ mới vỡ lẽ ra rằng tôi đã bị ‘hỏng’.
Bị lôi đến bệnh viện, tôi nhận được kết quả chẩn đoán mắc chứng trầm cảm ở trẻ em và chứng câm nín.
“Là do thằng bé thông minh nên tâm lý cũng nhạy cảm quá đấy ạ…”
Mẹ rơm rớm nước mắt khẩn khoản cầu xin vị bác sĩ.
“Thưa giáo sư, ngài là người đứng đầu trong lĩnh vực này mà. Xin hãy giúp Seo In nhà chúng tôi mau chóng bình phục. Tôi tha thiết nhờ cậy ngài.”
Có ai ngờ đâu, vẻ khẩn thiết bi thương ấy chẳng phải dành cho đứa con trai, mà là vì lo lắng cho thể diện của chính bà ta.
Trở về nhà, tôi lại có thêm những cái tên khác.
“Đồ phế phẩm.”
Hoặc không thì là.
“Thằng khuyết tật.”
Đại loại là như thế.
“Trầm cảm với chả câm nín là cái quái gì hả? Mày bị mất nước hay mất cha mất mẹ chắc? Sinh ra đã có tất cả, dâng tận miệng mà còn không biết hưởng, tại sao, rốt cuộc là tại sao! Mày cứ phải làm khổ tao thế hả?”
Nghe đến đây thì chính tôi cũng thấy thắc mắc. Rốt cuộc tại sao tôi lại ra nông nỗi này. Tại sao tôi lại sinh ra với bộ dạng khiếm khuyết như thế. À không, ngay từ đầu tại sao tôi lại được sinh ra cơ chứ. Biết đâu chừng vẫn còn một đứa trẻ khác xứng đáng với gia đình này hơn tôi thì sao…
Không thể cất tiếng không có nghĩa là không biết khóc.
Nước mắt tôi cứ trào ra bất kể lúc nào. Thường thì trước cả khi tôi kịp nhận ra mình đang buồn hay đau khổ, khóe mắt đã ướt đẫm rồi. Đến tôi còn thấy bản thân mình hết thuốc chữa thì nói gì đến người khác.
Dần dần, tôi học được cách kìm nén tiếng khóc. Tôi nín nhịn cho đến khi những giọt nước mắt không thể chảy ra ấy ứ đọng trong lồng ngực, dâng lên ngập tràn khiến trái tim như muốn ngạt thở vì bồn chồn. Tôi giữ gương mặt lạnh tanh, chỉnh lại khóe môi để che giấu cảm xúc trong lòng.
Thế rồi, con đê ấy cũng đã vỡ.
Nguyên nhân cũng chỉ là một chuyện cỏn con.
Đó là ngày hội thao ở trường, một trong những sự kiện mà cha mẹ tôi gọi là ‘trò vô bổ’. Tôi lại thấm thía cái cảm giác từng trải qua trong buổi dự giờ ở nhà trẻ mấy năm về trước.
Ngày hôm đó, tôi quyết định rằng thà hoàn toàn cô độc còn hơn. Như thế thì tôi sẽ chẳng phải tuyệt vọng trước sự thật rằng chỉ có mỗi mình mình là lẻ loi.
Tôi cắm đầu chạy khỏi trường học. Vì không thể về nhà nên tôi cứ lang thang khắp khu phố mà chẳng có đích đến. Đi mãi, đi mãi cho đến khi đôi chân đau nhức, tôi bệt xuống đất. Khoảnh khắc ấy, cõi lòng tôi cũng vụn vỡ theo. Và rồi tôi òa khóc nức nở.
“Ơ kìa?”
Tôi đang gục mặt vào đầu gối khóc thút thít thì nghe thấy tiếng người, vội nhăn mặt cố nín khóc.
“Này nhóc con.”
Nước mắt vẫn còn đang rơi mà cậu ta lại bắt chuyện một cách chẳng tinh tế chút nào. Tôi định ngẩng đầu lên để bỏ đi chỗ khác.
Đó là khoảnh khắc đầu tiên tôi nhìn thấy Woo Seung Kyung.
“Cậu khóc đấy à?”
Tôi muốn trả lời là không phải, nhưng cổ họng chỉ có thể hắt ra những hơi thở vô vọng.
“Tên cậu là gì?”
Tôi chỉ biết mấp máy môi rồi trân trân nhìn cậu ta.
Khi ấy, Woo Seung Kyung cao hơn tôi rất nhiều. Có điều cậu ấy gầy gò và đen nhẻm nên trông chẳng có gì nổi bật. Dẫu vậy, gương mặt cậu ta lại vô cùng ấn tượng. Đặc biệt là đôi mắt màu nâu lấp lánh như đang hút lấy cả ánh mặt trời kia trông thật mãnh liệt.
Cậu ấy đặt xấp giấy đang kẹp bên hông xuống nền đường nhựa, chùi vội lòng bàn tay vào áo phông rồi chìa về phía tôi.
“Tôi là Seung Kyung, Woo Seung Kyung.”
Bàn tay nhỏ bé và lấm lem ấy, chính là bàn tay đầu tiên mà có người chìa ra cho tôi.